Khoa học năng lượng

Tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong các lĩnh vực sản xuất và đời sống của tỉnh Ninh Thuận

 Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang là vấn đề cấp thiết không chỉ trên quy mô quốc gia mà còn đặc biệt quan trọng cho mỗi ngành và địa phương. Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả số 50/2010/QH12 ngày 17 tháng 5 năm 2010, đã chỉ rõ, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và toàn xã hội.

Đọc thêm...

Năng lượng tái tạo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2013 - 2020

Anh 4 - Khu dan cu Mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 là: Phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững theo mô hình kinh tế “xanh, sạch”; Phấn đấu, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm GDP giai đoạn 2011-2015 đạt 16-18%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt 19-20%/năm; GDP/người theo giá thực tế đến năm 2015 đạt khoảng 1.400 USD, bằng 70% mức bình quân chung của cả nước và đến năm 2020 đạt khoảng 2.800 USD, bằng 87,5% mức bình quân chung của cả nước.

Đọc thêm...

Mô hình ứng dụng thiết bị tự động điều khiển quang thông tiết kiệm điện năng chiếu sáng công cộng tại thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam

Giới thiệu mô hình tiết kiệm điện năng cho chiếu sáng công cộng tại tp Tam Kỳ-Quảng Nam dùng thiết bị điều khiển quang thông do Viện KHNL chế tạo:Giới thiệu công nghệ và nguyên lý hoạt động của thiết bị điều khiển tiết kiệm điện năng chiếu sáng;Mô hình;đánh giá hiệu quả kinh tế-kỹ thuât.

Thông qua kết quả đạt được, đề xuất phương án tiết kiệm điện năng chiếu sáng công cộng cho tp Tam Kỳ.

Đọc thêm...

Năng lượng từ rác thải: Một nguồn năng lượng tiềm năng mới

Waste-to-energy (WTE) is an efficient way to treat municipal waste (MW). The technology has been considered as a perfect environmental solution, beside reducing landfill area, generating electricity and also minimizing the greenhouse gas emission.

Đọc thêm...

Một số dấu hiệu an ninh năng lượng cho đánh giá trạng thái an ninh năng lượng của Việt Nam

Việc sử dụng các dấu hiệu an ninh năng lượng (ANNL) để đánh giá trạng thái ANNL quốc gia bằng phương pháp định lượng là phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay. Bài báo sẽ đề cập đến cơ sở cho việc xây dựng các dấu hiệu ANNL và đề xuất một số dấu hiệu ANNL đơn lẻ cho việc đánh giá trạng thái ANNL của Việt Nam.

Đọc thêm...

Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia - giải pháp khoa học cho phát triển năng lượng bền vững

Báo cáo trình bày những thành tựu của năng lượng Việt Nam trong thời gian đổi mới và một số bất cập, thiếu bền vững do công tác quy hoạch còn riêng lẽ, thiếu tính hệ thống; đồng thời đề xuất phương pháp: Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia như là một giải pháp khoa học cho phát triển năng lượng bền vững.

QUY HOẠCH NĂNG LƯỢNG TỔNG THỂ QUỐC GIA - GIẢI PHÁP KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG BỀN VỮNG

NATIONAL INTEGRATED ENERGY PLANNING - THE SCIENCE MEASURE FOR SUSTAINABLE ENEGY DEVELOPMENT

Tạp chí Khoa học năng lượng – IES 

(Số 02-2014)

Bài báo đã xuất bản tại: THE THIRD INTERNATIONAL SCIENCE CONFERENCE ON SUSTAINABLE ENERGY DEVELOPMENT, Hanoi, 2013. ISBN: 978-604-913-137-0, Publishing House for Science and Technology, PP.29-35

PGS. TS. Bùi Huy Phùng
Chủ tịch HĐKH - VEA
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Tóm tắt

     Báo cáo trình bày những thành tựu của năng lượng Việt Nam trong thời gian đổi mới và một số bất cập, thiếu bền vững do công tác quy hoạch còn riêng lẽ, thiếu tính hệ thống; đồng thời đề xuất phương pháp: Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia như là một giải pháp khoa học cho phát triển năng lượng bền vững.
Abstract
     The report presents Vietnam energy achievements in recent renovation period and some unsuitable, unsustainable issuses by separative and nosystematzation plannings of energy subsectors; simultaneously to propose the method of national intergated energy planning as science measure for sustainable energy development.

I. MỞ ĐẦU
     Qua gần 30 năm đổi mới, cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội, ngành năng lượng Việt Nam đã có những bước phát triển khá, rất đáng ghi nhận. Giai đoạn 2001-2009, GDP tăng bình quân 7%/năm, giai đoạn 2010-2012, tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng GDP vẫn tăng khoảng 6%/năm. Năm 2012, GDP đầu người đạt 1.540USD, Việt Nam bước qua ngưỡng nước nghèo. Sản xuất năng lượng sơ cấp tăng khoảng 7,5%/năm. Năm 2012, sản xuất than sạch đạt 46 triệu tấn, dầu thô 16 triệu tấn, khí đốt 9 tỷ m3, tổng công suất các nhà máy điện gần 26.000 MW và điện sản xuất đạt 120,795 tỷ kWh (thuỷ điện 53 tỷ, NĐ khí 40,2 tỷ, NĐ than 21,2 tỷ, NĐ dầu 0,159 tỷ và nhập khẩu 2,7 tỷ kWh). Điện tiêu thụ đầu người đạt xấp xỉ 1.400 kWh/ng.năm. Cơ sở hạ tầng của ngành năng lượng phát triển nhanh. Nội dung sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường đang từng bước được quản lý thống nhất và có hiệu quả. Hoạt động năng lượng đang được định hướng dần theo cơ chế thị trường.
     Ngành năng lượng càng lớn mạnh, hệ thống năng lượng càng phức tạp, đa dạng, đòi hỏi tính cân đối, thống nhất nhằm mục tiêu phát triển bền vững và hiệu quả cao hơn. Thực tế phát triển các phân ngành năng lượng nhiều năm qua đã ngày càng bộc lộ không ít bất cập, kém bền vững.
II. QUY HOẠCH CÁC PHÂN NGÀNH NĂNG LƯỢNG VÀ NHỮNG BẤT CẬP
1. Thực trạng các quy hoạch phân ngành năng lượng đã xây dựng
     Trong cả quá trình phát triển cho tới nay (2013), Việt Nam đã xây dựng được 07 Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia (QHĐ); 05 Quy hoạch phát triển ngành than (QHT); 03 Quy hoạch phát triển dầu-khí (QHDK); 01 quy hoạch phát triển điện hạt nhân; 01 Quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo cho vùng phía bắc (QHNLTT)-2012 và 01 Chiến lược phát triển NLQG-2007.
     Các quy hoạch phân ngành năng lượng nêu trên đã góp phần định hướng quan trọng cho sự phát triển ngành năng lượng; tạo nên những cơ sở hạ tầng phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế quốc dân; đã xây dựng và hoàn thiện dần các bộ tư liệu, số liệu phục vụ tính toán quy hoạch và quản lý nhà nước về năng lượng.
     Nhược điểm, bất cập cần được nêu ra là:
    + Ngành năng lượng có tính hệ thống cao nhưng các quy hoạch phân ngành: Điện, Than, Dầu-khí, Năng lượng tái tạo (NLTT) được xây dựng riêng, khá biệt lập, vì vậy thể hiện bất cập, thiếu đồng bộ do: Thời gian quy hoạch chưa thống nhất; Tư liệu, số liệu phục vụ quy hoạch chưa đủ độ tin cậy cần thiết và thiếu đồng bộ, thống nhất giữa các ngành năng lượng; Các nội dung quy hoạch chưa được xem xét, tính toán một cách đồng bộ, dẫn tới khập khiễng, thiếu thống nhất; Cơ cấu, tỷ lệ đầu tư chưa hợp lý giữa các phân ngành và giữa các giai đoạn quy hoạch; Giá cả của các loại nhiên liệu-năng lượng là đầu vào đầu ra của nhau, nhưng thiếu sự cân đối và tương quan hợp lý.
    + Phương pháp tính toán xây dựng quy hoạch chưa được quan tâm đầu tư nghiên cứu, nên đã thể hiện sự bất hợp lý ở hai khía cạnh chính: (i) phương pháp tiếp cận riêng lẻ, thiếu tính hệ thống, đồng bộ; (ii) phương pháp và công cụ sử dụng còn chưa thật phù hợp với điều kiện đặc thù Việt Nam, ở một số phân ngành vẫn còn sử dụng phương pháp thủ công truyền thống.
     Những nhược điểm, bất cập, thiếu đồng bộ của các quy hoạch phân ngành năng lượng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho các quy hoạch phải điều chỉnh nhiều lần, nhiều công trình điện chậm tiến độ. Ví dụ: giai đoạn 2006-2010 kế hoạch phát triển nguồn điện thực hiện chỉ đạt 65% kế hoạch, lưới điện chỉ đạt khoảng 45% kế hoạch [1]; Một số nhà máy điện sử dụng khí được xây dựng đưa vào hoạt động nhưng không đủ khí hoặc chưa có khí; một số nhiệt điện than đã triển khai xây dựng mà chưa rõ nguồn than cung cấp; lưới điện phát triển thiếu đồng bộ với nguồn, các nguồn điện xây dựng thiếu đồng bộ giữa các miền v.v…đã dẫn đến những sự cố mất điện lớn đáng tiếc, vv…
     Sau đây xin phân tích đôi nét về sự thể hiện tính thiếu thống nhất, bất cập khi xây dựng quy hoạch phát triển các phân ngành năng lượng riêng lẽ ở nước ta hiện nay.
2. Quy hoạch điện VII và những thách thức
2.1. Dự báo nhu cầu điện theo QHĐ VII
     Kết quả dự báo nhu cầu năng lượng thiếu chính xác và thiên cao do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
    Phương pháp sử dụng dự báo nhu cầu điện chưa phù hợp: Quy hoạch điện VII sử dụng phương pháp hệ số đàn hồi điện đối với GDP- hệ số biểu thị mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện và tốc độ tăng trưởng GDP, phương pháp này thường chỉ dùng để dự báo ngắn hạn, mang tính phác thảo và kiểm tra, trong quy hoạch lại được sử dụng làm phương pháp chủ yếu; Nội dung sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm chưa chú ý đúng mức. Vì vậy, đã đẩy nhu cầu điện lên cao: sản xuất và nhập khẩu điện các năm 2015, 2020 và 2030 theo QHĐ VII [1], tương ứng là 194-210; 330-362 và 695-834 tỷ kWh dẫn đến cường độ điện đối với GDP (kWh/1USD) ngày càng tăng, hoàn toàn không thuyết phục! có thể tham khảo, so sánh với một số nước dưới đây [12].

 

TT điện-tỷ kWh

GDP-tỷ $

CĐ Đ-kWh/USD

CHLB Nga   - 2008

850

2300

0,37

CHLB Đức   - 2008

594

3650

0,20

Nhật Bản      2008

~1000

4909

0,25

Thái Lan    - 2008

145

261

0,56

Trung Quốc- 2008

2800

4336

0,65

     Từ những số liệu được dẫn trên cho thấy: Cường độ điện đối với GDP (kWh/USD) hiện nay ở nhiều nước đều bé hơn 1, Việt Nam những năm qua xấp xỉ 1 (năm 2011, tiêu thụ 100 tỷ kWh làm ra sản phẩm giá trị khoảng 100 tỷ USD) đã là cao, nay dự báo ngày càng lớn, 1,5-2, thụt lùi so với cả chính mình!
2.2. Những hậu quả kéo theo do dự báo nhu cầu điện quá cao
     Dự báo nhu cầu điện quá cao nêu trên đã dẫn tới một số tình huống bất cập, khó giải quyết là:
     1/ Nguồn và lưới điện phải xây dựng dồn dập, không có tính khả thi
Kết quả tính toán nguồn với phương án cơ sở, có thể tóm tắt mấy con số chính sau đây:
     + Giai đoạn 2011-2015, tổng công suất nguồn 43.150MW (tăng so với 2010 là 22.890MW, mỗi năm tăng gần 5.000MW); đường dây 500kV với 3.833 km và trạm với 17.100MVA; đường dây 220kV tương ứng 10.677 km và 35.863MVA;
     + Giai đoạn đến 2020, tổng công suất nguồn 75.000MW trong đó nhiệt điện than 32.500MW (46%);
     + Giai đoạn đến 2025 tổng công suất nguồn 97.000MW, trong đó nhiệt điện than 45.200MW (46%);
     + Giai đoạn đến 2030, tổng công suất nguồn 146.000MW, trong đó nhiệt điện than 77.300MW (52%), điện sản xuất 695 tỷ kWh, với phương án cao là 834 tỷ kWh;
     + Năng lượng tái tạo trong tổng sản xuất điện đạt 4,5% vào 2020, 6% vào 2030;
     + Điện hạt nhân dự kiến sẽ vào làm việc năm 2021 khoảng 2.000MW và đến 2030 sẽ có tổng công suất khoảng 10.000MW.
     2/ Yêu cầu than cho sản xuất điện lớn và chưa rõ nguồn cung cấp [1,2]
2015 2020 2025 2030

 

2015

2020

2025

2030

Sản lượng than thương phẩm, tr.tấn    

52

71

101

110

Nhu cầu than cho điện, tr.tấn

32

78

118

190

Khả năng cung cấp

28

36

61

63

Thiếu hụt                    

4

42

57

127

     Đối với Việt Nam tới đây than được sử dụng nhiều để sản xuất điện là hợp lý, nhưng ở mức độ nào là phù hợp cần được tính toán kỹ.
     3/Yêu cầu đầu tư lớn và thiếu cân đối
     Để đảm bảo thực hiện khối lượng đã đề ra, theo QĐ phê duyệt QHĐVII, yêu cầu vốn đầu tư khổng lồ.
     Giai đoạn 2011-2020: tổng đầu tư 48,8 tỷ USD, trong đó lưới 33%, 5 tỷ$/năm;
     Giai đoạn 2021-2030: tổng đầu tư 75 tỷ USD, trong đó lưới 34%: 7.5 tỷ$/năm;
     Trong khi đó, thời gian qua ngành than chỉ đầu tư mỗi năm 400-500 triệu USD, nay với QH-2012 [3], bình quân mỗi năm đã tăng lên gần 1 tỷ USD, tuy vậy cũng chỉ bằng 15-17% đầu tư điện lực.
     Quan hệ đầu tư nguồn và lưới điện, ở Việt Nam cả một thời gian dài, đầu tư lưới chỉ khoảng 20% tổng đầu tư điện lực [11]. Tại tài liệu thuyết minh chi tiết của QHĐVII [1], tỷ lệ này cụ thể là 24,7% giai đoạn 2011-2015; 26,74% giai đoạn 2016-2020; 31,37% giai đoạn 2021-25; 27,80% giai đoạn 2026-2030 và 29,41% cho toàn bộ thời gian quy hoạch 2011-2030; trong quyết định phê duyệt lại là 33-34% [2]. Tỷ lệ này ở khá nhiều nước được đánh giá với mức 45-50% [11].
     Vài nhận xét
     1/ Mức nhu cầu điện tham khảo
     Kết quả tính toán thuộc đề tài cấp Bộ, tại Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam [7,8],

 

2015

2020

2030

Nhu cầu điện SX, tỷ kWh

145-155

225-235

450-460

     Mức nhu cầu này cũng tương tự như một vài nghiên cứu khác [9], tuy vậy cường độ điện vẫn còn cao.
    Chúng ta cần nghiên cứu hiệu chỉnh cập nhật nhu cầu điện của QHĐVII phù hợp hơn.
    2/ Về nguồn, lưới điện, tính toán rà soát lại nhu cầu nguồn-lưới và từ đó rà soát vốn đầu tư phù hợp hơn. Trong đó nguồn nhiệt điện đốt than sẽ được xem xét giảm bớt, có thể chỉ ở mức 20.000MW vào 2020, 40.000MW vào 2030. Nhu cầu than cho sản xuất điện sẽ không quá lớn; xem xét khả năng tăng tỷ trọng NLTT.
     3/ Về nguồn than cho nhiệt điện
     - Với khả năng than nội địa (khoảng 50 tr.tấn), nên nghiên cứu cân đối lại nhu cầu than cho các ngành, kể cả xuất khẩu giai đoạn đến 2015, đảm bảo chưa nhập than;
     - Đầu tư thích đáng hơn để đẩy nhanh tiến độ thử nghiệm và khai thác bể than đồng bằng sông Hồng;
     - Nghiên cứu việc đầu tư than ra nước ngoài sớm, thực tế vừa qua cho thấy không dễ nhập than khối lượng lớn.
     4/ Quản lý thống nhất ngành năng lượng
     Ngành năng lượng có tính hệ thống rất cao, cần có sự quản lý thống nhất đối với các phân ngành: than, điện, dầu-khí, NLTT, tính thống nhất này không chỉ ở cơ cấu tổ chức, mà chủ yếu là cơ cấu sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ cấu đầu tư, cơ cấu giá cả các loại nhiên liệu-năng lượng, trong đó giá là đòn bẩy cần tập trung giải quyết sớm.
III. QUY HOẠCH NĂNG LƯỢNG TỔNG THỂ QUỐC GIA LÀ GIẢI PHÁP KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG BỀN VỮNG
1. Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia (QHNLTTQG)
     Theo quan điểm lý thuyết hệ thống, ngành năng lượng là một hệ thống lớn, trong đó bao gồm các đối tượng năng lượng (hầm mỏ, cơ sở sản xuất chế biến, vận tải, xuất-nhập, tiêu thụ năng lượng...), hoạt động và phát triển không ngừng trên cơ sở các mối quan hệ vật lý-kỹ thuật, biến đổi và thay thế lẫn nhau (được gọi là các mối quan hệ trong) và các mối quan hệ với các ngành kinh tế quốc dân khác và môi trường (được gọi là các mối quan hệ ngoài), nhằm cung cấp năng lượng hiệu quả và bền vững.
      Về phân cấp, hệ thống năng lượng (HTNL), được phân cấp theo chuyên ngành gồm: phân ngành điện, than, dầu-khí, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân (cũng có thể ghép vào phân ngành điện) và phân cấp theo quy mô lãnh thổ: quốc gia, vùng, các trung tâm [8,9].
      QHNLTTQG là bước đầu tiên, là cơ sở để xây dựng quy hoạch các phân ngành năng lượng, là tiền đề cho kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng. Bởi vậy nó là cơ sở khoa học và theo pháp quy xây dựng quy hoạch nó còn là cơ sở pháp lý cho các quy hoạch phân ngành. Điều này phù hợp với Luật Điện lực sửa đổi mới ban hành 12-2012. Thời gian xây dựng quy hoạch thông thường 20-30 năm, cũng có thể dài hơn.
      Nội dung cơ bản của QHNLTTQG: Xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế-năng lượng quốc tế, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tiềm năng và khả năng khai thác, chế biến vận chuyển các nguồn nhiên liệu - năng lượng trong và ngoài nước (than, dầu, khí, thuỷ năng, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân,...), tính thay thế lẫn nhau giữa chúng, tiến bộ khoa học - công nghệ và yêu cầu bảo vệ môi trường, cần nghiên cứu tính toán và xây dựng phương án hợp lý phát triển hệ thống năng lượng quốc gia đáp ứng mục tiêu bền vững, hiệu quả trong suốt thời gian quy hoạch. Lược đồ nghiên cứu xây dựng Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia trình bày trên hình 1.

Hình 1. Lược đồ NC xây dựng QHNLTTQG

     Để giải bài toán nêu trên, ngoài các công cụ tính toán hiện đại, đã được chuyển giao và nghiên cứu ứng dụng ở nước ta như: phương pháp và phần mền phân tích đánh giá nhu cầu năng lượng-MEDEE (Model d’evalution de la demande d’energie), hoặc phương pháp rút gọn-MAED (The Model of Analysis of the Energy Demand) [5,9]; Phương pháp tối ưu dòng năng lượng-EFOM-ENV [6], Phương pháp chiến lược cung cấp năng lượng-MESSAGE [7], MAKAL, PDPAT.... Và gần đây trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện Khoa học năng lượng với Viện Hệ thống năng lượng Melentiev, Phân viện Xibia, Viện Hàn lâm khoa học Nga, CHLB Nga, Viện Khoa học năng lượng đã nhận chuyển giao phương pháp và phần mềm CORRECTIVE có khả năng tính toán cân đối, phát triển nguồn năng lượng . Một số phương pháp hỗ trợ quyết định phối hợp với phương pháp chuyên gia phân tích và đề nghị phương án khả thi [8,9] bước đầu đã được sử dụng. Bởi vậy, hiện nay chúng ta có khả năng tập trung nghiên cứu hoàn thiện phương pháp luận và công cụ tính toán tối ưu phát triển hệ thống lớn năng lượng phù hợp với những điều kiện đặc thù của nền kinh tế xã hội Việt Nam và xây dựng bộ dữ liệu về năng lượng và kinh tế theo chuẩn quốc tế có độ tin cậy cao, cho phép cập nhật và truy xuất dễ dàng trong quá trình xây dựng và bổ sung cập nhật quy hoạch khi có yêu cầu.
2. Những kết quả chính có thể nhận được từ QHNLTTQG
     + Nhu cầu nhiên liệu-năng lượng cho các lĩnh vực tiêu thụ đối với các giai đoạn quy hoạch;
     + Xác định cơ cấu các nguồn nhiên liệu-năng lượng cần sử dụng cho từng giai đoạn;
     + Định hướng cơ cấu vốn đầu tư giữa các phân ngành năng lượng theo các giai đoạn;
     + Xác định, dự báo được các công nghệ năng lượng chủ yếu sử dụng trong thời gian quy hoạch;
     + Xác định lượng phát thải khí nhà kính, định hướng biện pháp bảo vệ môi trường;
     + Định hướng giải pháp và chỉ tiêu an ninh năng lượng;
     + Tạo tư liệu-số liệu đầu vào để xây dựng các quy hoạch phân ngành;
     + Xác định được chi phí biên dài hạn của các loại nhiên liệu-năng lượng tương ứng với các thời kỳ quy hoạch, làm cơ sở cho việc định giá năng lượng hợp lý và hài hòa.
KIẾN NGHỊ
      Nghiên cứu cơ sở phương pháp luận và công cụ tính toán phát triển tổng thể hệ thống năng lượng là giải pháp khoa học đảm bảo phát triển bền vững và an ninh năng lượng quốc gia. Xây dựng QHNLTTQG nhằm xác định nhu cầu và vai trò của các dạng nhiên liệu năng lượng, tạo cơ sở khoa học xác định các tiêu chi phát triển bền vững, an ninh năng lượng, bố trí vốn đầu tư phù hợp, góp phần điều chỉnh giá năng lượng hợp lý, hài hoà giữa các dạng năng lượng theo cơ chế thị trường;
     Hiện nay Viện Khoa học năng lượng có chức năng nghiên cứu nội dung Phát triển bền vững HTNL, được Viện HLKH&CN VN đầu tư phát triển, đề nghị Nhà nước giao cho Viện Khoa học năng lượng chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan như các Viện chuyên ngành của các phân ngành năng lượng, một số Vện nghiên cứu thuộc Bộ Công Thương, Bộ KH&ĐT…,nghiên cứu bài toán phát triển tổng thể HTNL Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thuyết minh QHĐ VII, 7-2011.
2. Quyết định phê duyệt QHĐVII- 7-2011.
3. Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam, 1-2012.
4. Báo cáo thẩm định QHĐVII, 12-2010.
5. Bùi Huy Phùng và cs. Nghiên cứu phương án tổng thể khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng VN, BCĐT thuộc CTKH&CN trọng điểm. Bộ CN, GĐ 2001-2005-Viện KH&CN VN, 8-2005.
6. Bùi Huy Phùng, Phương pháp TTTƯ phát triển bền vững HTNL, NXB KH&KT, Hà nội 2011.
7. Nguyễn Mạnh Hiến-Phát triển cơ sở hạ tầng điện lực đến 2020, BC HT Phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng VN đến 2020 và tầm nhìn đến 2030, HN 5-2012.
8. Xác định phương án đáp ứng phụ tải của hai nguồn điện lớn Hòa Bình và Sơn La-BC KH(theo yêu cầu của Bộ NL), CNĐT-TS.Bùi Huy Phùng và CS,Viện KHVN, Hà Nội 12-1986.
9. NGTKNN, TK IEA, 2010-12.
10. Model for Analysis of Energy Demand-MAED, IAEA, Vien-1986.
11. Methodological Guide-EFOM-ENV, United Nations, 1992.
12. Model for Energy Supply Strategy Alternatives and their General Environmental Impacts-MESSAGE, IAEA, 2003.